Học không biết chán, dạy người không biết mỏi''

Ngày 19 tháng 07 năm 2018

 » Tin tức » Tin tức trường lớp

Tin tức trường lớp

Cập nhật lúc : 20:48 09/01/2014  

KẾ HOẠCH NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ VANG


    UBND HUYỆN PHÚ VANG

PHÒNG GIÁO DỤC&ĐÀO TẠO

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

                                                                              

Số: 548/KH-PGDĐT

                              Phú Vang, ngày 25 tháng 12 năm 2013               

 

 KẾ HOẠCH

Nâng cao chất lượng giáo dục trên địa bàn Huyện

 

 

Nâng cao chất lượng giáo dục được xem là nhiệm vụ hàng đầu của ngành giáo dục. Toàn ngành đã tích cực thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục, tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên, duy trì sĩ số học sinh, đẩy mạnh công tác phụ đạo học sinh có học lực yếu kém, tăng cường kỷ cương, nề nếp dạy và học trong nhà trường, tổ chức giảng dạy 2 buổi/ ngày cho học sinh ở các trường Tiểu học và Trung học cơ sở là các biện pháp mà các nhà trường đã và đang thực hiện nhằm nâng cao chất lượng.

  Qua quá trình tìm hiểu, phân tích, thực trạng, nguyên nhân để tìm ra những giải pháp khắc phục yếu kém, nâng cao  chất lượng , cụ thể như sau :

I. Thực trạng:

Trong nhiều năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, sự ủng hộ, tham gia tích cực của nhân dân, giáo dục-đào tạo Phú Vang đã có những bước phát triển mạnh, giành được nhiều kết quả to lớn, góp phần thực hiện mục tiêu "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" cho quê hương, đất nước, đóng góp quan trọng vào sự phát triển KT- XH của huyện nhà.

Hệ thống và quy mô đào tạo các cấp bậc học trên địa bàn huyện không ngừng được mở rộng, đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội; huyện Phú Vang cũng đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở (THCS) đúng độ tuổi và đang tiếp tục duy trì, phổ cập giáo dục THCS, phát triển phổ cập GDTH ĐĐT lên mức 2.

Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên được củng cố, kiện toàn đủ về số lượng, 100% đạt chuẩn và trên chuẩn; đa số cán bộ quản lý, giáo viên có phẩm chất chính trị vững vàng, tâm huyết với nghề, sáng tạo trong công việc.

Bên cạnh sự đạt được, vẫn còn một số cán bộ quản lý, giáo viên còn thiếu tâm huyết với nghề nghiệp dẫn đến chất lượng giáo dục đại trà cũng như chất lượng mũi nhọn của một số trường còn thấp ảnh hưởng đến chất lượng chung của giáo dục toàn huyện so với các huyện, thị trong toàn tỉnh.

 Kết quả  khảo sát chất lượng đầu năm học 2013-2014 của lớp 6 trường THCS để đánh giá chất lượng lớp 5 bậc tiểu học và lớp 10 trường THPT để đánh giá chất lượng lớp 9 trường THCS  đã thấy rõ chất lượng một số trường TH và THCS còn thấp, nhất là khối tiểu học.

Kết quả khảo sát lớp 6 để đánh giá chất lượng lớp 5 và lớp 10 để đánh giá chất lượng lớp 9 đầu năm học 2013-2014 như sau :

Tiểu học:

Xếp trong toàn tỉnh :

TT

CÁC ĐƠN VỊ

ĐTB

VỊ THỨ

GHI CHÚ

1

Thành phố Huế

6.42

1

 

2

Huyện Quảng Điền

6.31

2

 

3

Thị xã Hương Thủy

5.99

3

 

4

Huyện Phú Lộc

5.48

4

 

5

Huyện Phong Điền

5.32

5

 

6

Thị xã Hương Trà

5.17

6

 

7

Huyện Phú Vang

5.04

7

 

8

Huyện A Lưới

4.01

8

 

9

HuyệnNamĐông

3.38

9

 

Các trường TH xếp trong huyện và trong tỉnh :

 

TT

 

CÁC ĐƠN VỊ

 

ĐTB

VỊ THỨ TOÀN TỈNH

(233 trường)

VỊ THỨ  TOÀN HUYỆN

(37 trường)

1

Vinh Xuân 1

6.58

22

1

2

Phú Đa 2

6.34

34

2

3

Phú Thanh

6.34

34

2

4

Phú Mỹ 1

6.15

53

4

5

Phú Đa 1

5.88

77

5

6

Phú Mỹ 2

5.87

78

6

7

Vinh Thái

5.85

81

7

8

Vinh Phú

5.79

87

8

9

Phú Thượng 1

5.7

100

9

10

Phú Thuận 2

5.62

106

10

11

Phú Mậu 2

5.52

115

11

12

Dương Nổ

5.45

119

12

13

Phú Mậu 1

5.45

119

12

14

Phú Đa 3

5.44

123

14

15

Phú Hồ

5.25

142

15

16

Phú Thượng 2

5.2

146

16

17

Phú An 2

5.13

149

17

18

Phú Diên 2

5.13

149

17

19

Thuận An 1

5.11

152

19

20

Vinh An 2

5.08

156

20

21

Phú Lương 2

5.04

158

21

22

Phú Lương 1

5.03

159

22

23

Phú Diên 1

4.86

173

23

24

Vinh Thanh 2

4.75

176

24

25

Phú Dương

4.7

178

25

26

Vinh Hà

4.7

178

25

27

Vinh Thanh 1

4.66

181

27

28

Phú An 1

4.66

181

27

29

Hà Trung

4.64

184

29

30

Phú Hải

4.6

186

30

31

Thuận An 2

4.39

193

31

32

Vinh An 1

4.38

195

32

33

Phú Thuận 1

4.26

198

33

34

Phú Xuân 1

3.99

206

34

35

Phú Tân

3.94

207

35

36

Phú Xuân 2

3.89

208

36

37

Vinh Xuân 2

3.7

211

37

THCS : Xếp trong toàn tỉnh :

TT

Tên huyện, thị xã

ĐTB

Xếp thứ

Ghi chú

1

TX Hương Thuỷ

3.53

1

 

2

Huyện Quảng Điền

3.46

2

 

3

Huyện Phú Vang

3.09

3

 

4

TX Hương Trà

3.06

4

 

5

Huyện Phú Lộc

3.04

5

 

6

Huyện Phong Điền

2.77

6

 

7

HUyệnNamĐông

2.42

7

 

8

8 Huyện A Lưới

1.75

8

 

 

Xếp các trường THCS trong huyện

 

TT

 

CÁC ĐƠN VỊ

(THCS)

 

ĐTB

VỊ THỨ TOÀN TỈNH

(107 trường)

VỊ THỨ TOÀNHUYỆN

(20 trường)

1

THCS Phú Thanh

3.9

4

1

2

THCS Phú Dương

3.77

6

2

3

THCS Phú Xuân

3.42

17

3

4

THCS Phú Mỹ

3.39

19

4

5

THCS Vinh Thanh

3.33

21

5

6

THCS Phú Hồ

3.33

21

5

7

THCS Phú Mậu

3.28

25

7

8

THCS Phú Thượng

3.12

38

8

9

THCS Phú An

3.08

40

9

10

THCS Phú Lương

3.05

43

10

11

THCS Vinh Xuân

3.01

46

11

12

THCS AB-Vinh An

2.98

48

12

13

THCS Phú Đa

2.9

54

13

14

THCS Vinh Thái

2.9

55

14

15

THCS Phú Diên

2.85

59

15

16

THCS Phú Hải

2.83

63

16

17

THCS Vinh Phú

2.75

68

17

18

THCS Thuận An

2.5

84

18

19

THCS Phú Tân

2.48

86

19

20

THCS Phú Thuận

2.41

90

20

 

Một số nguyên nhân dẫn đến hạn chế là:

Nguyên nhân khách quan:

1. Cấp ủy địa phương có nơi chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng dạy và học của con em trong địa bàn xã.

2. Cơ sở vật chất chưa đáp ứng hết để phục vụ nhu cầu học tập lớp 2 buổi/ ngày, nhiều trường các phòng chức năng và thiết bị dạy học còn thiếu. Tỉ lệ lớp 2 buổi/ngày còn thấp (52,6%; còn thấp so với mặt bằng toàn tỉnh đã lên đến trên 70%) vì vậy hạn chế việc rèn luyện kỹ năng cho học sinh.

3. Điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường giáo dục ở một số địa phương và một số gia đình phụ huynh còn khó khăn vì vậy xã hội hóa giáo dục chưa cao, có một số cha mẹ chưa quan tâm đúng mức con em mình và thường giao phó cho giáo viên đứng lớp.

Nguyên nhân chủ quan :

1/Công tác kiểm tra của Phòng GD&ĐT :

 Đội ngũ chuyên viên phụ trách chuyên môn bậc học của Phòng GD ĐT còn ít (mỗi cấp học 2 người) lại phải kiêm nhiệm nhiều công việc và công tác đoàn thể; số trường học trên địa bàn huyện quá đông nên việc đi kiểm tra, triển khai công tác chuyên môn, nắm tình hình ở cơ sở có phần hạn chế.

2/ Công tác quản lý trường học của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn :

 a) Một số cán bộ quản lý giáo dục khả năng quản lý hạn chế trong việc chỉ đạo điều hành và tổ chức thực hiện công việc ; chưa thể hiện hết vai trò của người đứng đầu đơn vị trường học ; chưa quan tâm đến chất lượng dạy học của trường mình, giao việc dạy học trên lớp cho giáo viên ; công tác quản lý chuyên môn còn lỏng lẻo, còn thờ ơ với công tác nâng cao chất lượng giáo dục của đơn vị ; chưa hình thành được quy chế hoạt động của nhà trường để gắn trách nhiệm cho từng thành viên ;

b) Một số cán bộ quản lý giáo dục chậm đổi mới tư duy, thiếu năng động trong đổi mới công tác quản lý; chưa sáng tạo trong việc lập kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học.

c) Một số tổ trưởng, tổ phó chuyên môn của một số trường chưa giúp được cho lãnh đạo trường trong công tác quản lý chuyên môn ở tổ ; chưa phát huy tốt vai trò trách nhiệm của tổ, khối trưởng trong việc quản lý, theo dõi hoạt động chuyên môn của giáo viên.

3/ Công tác giảng dạy của giáo viên :

 Một bộ phận giáo viên thiếu ý chí phấn đấu vươn lên, thiếu tâm huyết, chưa say mê với nghề nghiệp, thiếu quan tâm đến đối tượng học sinh yếu dẫn đến chất lượng dạy học chưa cao, thể hiện :

- Trong giảng dạy một số giáo viên còn yếu về năng lực chuyên môn, chậm đổi mới phương pháp, chưa kích thích tính sáng tạo, tạo hứng thú và niềm tin để các em tham gia đóng góp xây dựng bài.

- Chưa đầu tư nhiều cho tiết dạy, còn giảng dạy qua loa, đại khái, soạn giảng chưa có chiều sâu, chưa phát huy tốt tích tích cực học tập của học sinh.

- Việc sử dụng đồ dùng dạy học, cho học sinh thực hành, thực nghiệm mặc dù có nhiều cố gắng, song so với yêu cầu thì cũng còn nhiều hạn chế. Học sinh chủ yếu được tiếp thu qua lý thuyết, thiếu tính thực tiễn nên hạn chế khả năng tư duy, tìm tòi học hỏi, nghiên cứu, sáng tạo.

- Một số giáo viên chưa thật sự thể hiện hết trách nhiệm của mình, chưa tích cực trong việc cùng nhà trường và giáo viên chủ nhiệm giáo dục tác phong, đạo đức học sinh, chưa động viên, giúp đỡ các em mà còn nặng về biện pháp hành chính làm cho học sinh chán học.

4/ Về đối tượng học sinh : Có một số học sinh do hoàn cảnh khó khăn, gia đình các cháu nghèo ; bố mẹ bị mất hoặc đi làm ăn xa, ly thân, ly hôn… cháu ở với ông bà, dì, chú…dẫn đến các em hạn chế việc học tập; một số học sinh có khó khăn về học như thiểu năng trí tuệ, tiếp thu chậm… thiếu sự dìu dắt của giáo viên và quan tâm của gia đình.  

II. Mục tiêu và các giải pháp:

1. Mục tiêu chung:

        Thực hiện có hiệu quả chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục. Phấn đấu nâng cao chất lượng, nâng độ đồng đều và rút ngắn khoảng cách về chất lượng giữa các trường trong huyện, đặc biệt chú ý tới các trường ven biển, đầm phá, có nhiều khó khăn. Phấn đấu vươn lên vị trí là một trong những huyện của tỉnh có chất lượng cao về giáo dục.

2. Mục tiêu cụ thể :

2.1. Giáo dục mầm non:

- Xây dựng hệ thống trường, lớp mầm non theo hướng tiên tiến và từng bước hiện đại. Tiếp tục thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phấn đấu đến hết Quý I năm 2014, 100% xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. Ổn định quy mô  trường lớp, đảm bảo mỗi xã, thị trấn đều có trường mầm non công lập. Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ em. Phấn đấu đến năm 2015, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng trong nhà trường; cán bộ quản lý, giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo theo Điều lệ nhà trường quy định.

- Tăng cường đầu tư xây dựng trường MN đạt chuẩn quốc gia: Tập trung đầu tư trọng điểm các trường chuẩn Quốc gia theo lộ trình xây dựng Nông thôn mới.

   2.2. Giáo dục tiểu học:

- Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đủ về số lượng kể cả giáo viên các bộ môn đặc thù, đảm  bảo yêu cầu về chất lượng.

- Tập trung các nguồn lực, đầu tư cơ sở vật chất theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cấp học, trong đó đủ phòng học, phòng học chức năng... cho kế hoạch dạy - học 2 buổi/ngày, dạy - học môn ngoại ngữ và tin học.

- Tăng cường công tác tự học tự bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ; tăng cường công tác bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu để nâng cao chất lượng.

 2.3. Giáo dục trung học cơ sở:

 Tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở các nhà trường để đáp ứng nhu cầu trường chuẩn Quốc gia. Phấn đấu các trường học đều có đủ phòng học có đủ phòng bộ môn, phòng chức năng để làm việc, có từ 15 đến 20% số trường có lớp 2 buổi/ngày (theo nhiệm vụ năm học của Sở GD ĐT năm học 2013-2014),

2.4. Giáo dục thường xuyên:

Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh các hoạt động chuyên môn, tăng cường tự học bồi dưỡng thường xuyên của giáo viên theo nội dung chương trình của Bộ Giáo dục-Đào tạo quy định.

3. Các giải pháp :

3.1. Cấp ủy, chính quyền địa phương xã, thị trấn cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục đào tạo, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thống nhất nhận thức: Chăm lo phát triển giáo dục đào tạo là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, của từng gia đình và toàn xã hội.

3.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục:

Phòng GD và ĐT phối hợp với các ban, ngành liên quan, UBND các xã, thị trấn, chỉ đạo xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý các cấp học đủ về số lượng, chủng loại và bảo đảm chất lượng, chú trọng các khâu quy hoạch, thực hiện đánh giá cán bộ quản lý và giáo viên theo chuẩn hiệu trưởng và chuẩn giáo viên các cấp học. Quan tâm công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý và bồi dưỡng giáo viên theo chương trình bồi dưỡng thường xuyên của Bộ Giáo dục & Đào tạo.

Tổ chức các hoạt động hội thảo, chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm dạy học, tham quan thực tế ở một số trường điển hình tiên tiến để áp dụng vào trường mình cho có hiệu quả.

3.3. Đổi mới, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về giáo dục đào tạo:

Thực hiện tốt chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, trường học; chú trọng công tác sơ kết, tổng kết, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn về công tác quản lý, công tác chuyên môn, công tác giáo viên, công tác đoàn thể… Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và kiểm định chất lượng giáo dục. Coi trọng công tác thi đua, khuyến khích đối với những tập thể, cá nhân có chất lượng cao trong giáo dục đào tạo; nghiêm khắc đối với những tập thể cá nhân sau 2 năm liên tục có chất lượng giáo dục đào tạo thấp, không đáp ứng được yêu cầu hiện tại để phát triển trong những năm tiếp theo như :

- Phòng Giáo dục – Đào tạo tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra  quản lý các trường học, việc giảng dạy của giáo viên, khảo sát chất lượng lớp học; chọn giáo viên dạy giỏi của các trường tham gia vào mạng lưới chuyên môn trong công tác thanh tra, kiểm tra trường học.

 - Giao chỉ tiêu chất lượng về cho các trường và đánh giá trường, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trên kết quả đạt được của trường trong năm học đó; đánh giá dựa trên các chỉ tiêu và các hoạt động đã giao.

Cụ thể sẽ lấy kết quả năm học trước để xét thi đua năm học sau; nếu năm học trước kết quả thấp so với yêu cầu, chỉ tiêu đã giao thì xếp không hoàn thành nhiệm vụ.

+ Đối với hiệu trưởng trường học: Phải có kế hoạch cụ thể trong năm học và giao chỉ tiêu nhiệm vụ đến từng giáo viên. Trong quá trình công tác, nếu hai năm liên tiếp chất lượng không cải thiện, cơ quan không đoàn kết thì sẽ xem xét không tiếp tục bố trí làm hiệu trưởng.

+ Đối với phó hiệu trưởng: Trong quá trình công tác, nếu hai năm liên tiếp chất lượng không cải thiện thì không bố trí làm quản lý trường học.

+ Đối với tập thể : Không xét tập thể lao động tiên tiến.

     + Đối với giáo viên:

         - Trong quá trình công tác, Phòng GD-ĐT sẽ lấy kết quả năm học trước để xét thi đua năm học sau, qua đó đề bạt quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ quản lý; quan tâm ưu tiên đối với giáo viên giỏi ở vùng xa, khó khăn được chuyển công tác đến trường của vùng thuận lợi; hằng năm Phòng GD ĐT sẽ công bố số lượng giáo viên các trường thuận lợi còn thiếu để giáo viên giỏi có thể đăng ký nguyện vọng thuyên chuyển. Phòng GD ĐT sử dụng những giáo viên có bằng đại học chính quy có ý thức phấn đấu làm nòng cốt trong công tác hoạt động  chuyên môn.

 Nếu năm học trước kết quả chất lượng của lớp thấp so với yêu cầu thì xếp giáo viên không hoàn thành nhiệm vụ; nếu hai năm liên tiếp chất lượng của lớp phụ trách không đạt yêu cầu đề ra thì sẽ xem xét không bố trí giảng dạy hoặc chuyển công tác khác. Phòng GD ĐT sẽ tăng cường khảo sát đội ngũ giáo viên hằng năm từng môn học.

     3.4.Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên trong năm học chất lượng thấp xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ, không xét nâng lương thường xuyên.

3.5. Sắp xếp, phát triển hệ thống trường, lớp phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Bố trí giáo viên đủ cho các trường theo chỉ tiêu quy định.

3.6. Đổi mới các hoạt động giáo dục, phương pháp dạy - học, phương pháp đánh giá học sinh. Coi việc đổi mới phương pháp dạy học là khâu đột phá nhằm nâng cao chất lượng. Tập trung bồi dưỡng học sinh giỏi, đồng thời với việc kèm cặp, giúp đỡ phụ đạo học sinh diện yếu, kém. Kết hợp chặt chẽ hoạt động nội khóa với hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường để nâng cao chất lượng.

3.7. Tiếp tục thực hiện xã hội hóa giáo dục, thu hút mạnh các nguồn lực cho phát triển giáo dục. Đẩy mạnh sự  kết hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội để chăm lo việc giáo dục học sinh, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh; khuyến khích, mở rộng các hoạt động khuyến học, khuyến tài để động viên những học sinh học giỏi và giúp đỡ những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vươn lên trong học tập.

3.8.Ưu tiên đầu tư và có kế hoạch đầu tư phát triển cơ sở vật chất giáo dục đối với các xã có khó khăn. Tập trung đầu tư dứt điểm cho các trường đang phấn đấu đạt chuẩn quốc gia theo lộ trình Nông thôn mới và các trường đang thiếu phòng học; xây dựng đủ phòng học và phòng thực hành, thí nghiệm, đủ điều kiện thực hiện học 2 buổi/ngày.

Phòng Giáo dục & Đào tạo xây dựng kế hoạch này nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục trên địa bàn toàn huyện và xin ý kiến chỉ đạo của Huyện ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân Huyện để triển khai thực hiện ./.

 

Nơi nhận :                                                                                           KT.TRƯỞNG PHÒNG

-         Huyện ủy, HĐND, UBND;                                                             PHÓ TRƯỞNG PHÒNG

-          Lãnh đạo PGD ĐT;                                                                        (Đã ký và đóng dấu)    

-          Bộ phận PT;   

-          Các trường TH;

-          Website PGD ĐT để phổ biến;                                                           Lê Văn Song

Lưu VT-PT.

Số lượt xem : 388

Chưa có bình luận nào cho bài viết này